don-gian-hon-nua-thu-tuc-ke-khai-tinh-thue

Thực hiện chủ trương của Chính phủ về việc đơn giản thủ tục hành chính thuế, tiến tới rút ngắn thời gian làm thủ tục về thuế ở nước ta từ nay đến năm 2015 xuống ngang bằng các nước trong khu vực Đông Nam Á. Ngày 10/10/2014, Bộ Tài chính đã ban hành Thông tư số 151/2014/TT-BTC hướng dẫn Nghị định số 91/2014/NĐ-CP  ngày 01/10/2014 của Chính phủ về việc sửa đổi, bổ sung một số Điều tại các Nghị định quy định về thuế; Theo đó, việc cắt giảm, bỏ bớt những thủ tục hành chính thuế rườm rà không cần thiết, nhưng vẫn đảm bảo tính minh bạch, khách quan trong việc thực hiện thu nộp NSNN theo đúng quy định của Luật quản lý thuế mà Quốc hội đã ban hành. Một số nội dung chính sửa đổi, bổ sung về thủ tục hành chính thuế giá trị gia tăng (GTGT) nhằm đơn giản hơn nữa về thủ tục hành chính thuế trong phạm vi thẩm quyền của Chính phủ và đã được Bộ Tài chính hướng dẫn thực hiện như sau:

Một là: Sửa đổi nguyên tắc chung về tính thuế, khai thuế.

Trường hợp Người nộp thuế (NNT) tạm ngừng kinh doanh thì trong thời gian này không phát sinh nghĩa vụ thuế thì không phải nộp hồ sơ khai thuế của thời gian tạm ngừng hoạt động kinh doanh. Trường hợp NNT tạm ngừng kinh doanh không trọn năm dương lịch hoặc năm tài chính thì vẫn phải nộp hồ sơ quyết toán thuế năm.

Đối với NNT thực hiện thủ tục đăng ký kinh doanh tại cơ quan đăng ký kinh doanh phải thông báo bằng văn bản về việc tạm ngừng kinh doanh hoặc hoạt động kinh doanh trở lại với cơ quan đăng ký kinh doanh nơi NNT đã đăng ký theo quy định.

Cơ quan đăng ký kinh doanh có trách nhiệm thông báo cho cơ quan Thuế biết về thông tin NNT tạm ngừng kinh doanh hoặc hoạt động kinh doanh trở lại chậm nhất không quá 02 ngày làm việc kể từ ngày nhận được văn bản của NNT. Trường hợp NNT đăng ký tạm ngừng kinh doanh, cơ quan Thuế có trách nhiệm thông báo cho cơ quan đăng ký kinh doanh về nghĩa vụ thuế còn nợ với NSNN của NNT chậm nhất không quá 02 ngày làm việc kể từ ngày nhận được thông tin từ cơ quan đăng ký kinh doanh.

Đối với NNT thuộc đối tượng đăng ký cấp mã số thuế trực tiếp tại cơ quan Thuế thì trước khi tạm ngừng kinh doanh, NNT phải có thông báo bằng văn bản gửi cơ quan Thuế quản lý trực tiếp chậm nhất 15 ngày trước khi tạm ngừng kinh doanh. Nội dung thông báo gồm:

  • Tên, địa chỉ trụ sở, mã số thuế;
  • Thời hạn tạm ngừng kinh doanh, ngày bắt đầu và ngày kết thúc thời hạn tạm ngừng;
  • Lý do tạm ngừng kinh doanh;
  • Họ, tên, chữ ký của người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp, đại diện của nhóm cá nhân kinh doanh, của chủ hộ kinh doanh.

Hết thời hạn tạm ngừng kinh doanh, NNT phải thực hiện kê khai thuế theo quy định. Trường hợp NNT ra kinh doanh trước thời hạn theo thông báo tạm ngừng kinh doanh thì phải có thông báo bằng văn bản gửi cơ quan Thuế quản lý trực tiếp đồng thời thực hiện nộp hồ sơ khai thuế theo quy định.

Hai là: Sửa đổi, bổ sung đối với đối tượng khai thuế GTGT theo quý.  

Khai thuế theo quý áp dụng đối với NNT GTGT có tổng doanh thu bán hàng hoá và cung cấp dịch vụ của năm trước liền kề từ 50  tỷ đồng trở xuống.

Trường hợp NNT mới bắt đầu hoạt động SXKD, việc khai thuế GTGT được thực hiện theo quý. Sau khi SXKD đủ 12 tháng thì từ năm dương lịch tiếp theo sẽ căn cứ theo mức doanh thu bán hàng hoá, dịch vụ của năm dương lịch trước liền kề (đủ 12 tháng) để thực hiện khai thuế GTGT theo tháng hay theo quý. NNT có trách nhiệm tự xác định thuộc đối tượng khai thuế theo tháng hay khai thuế theo quý để thực hiện khai thuế theo quy định.

Trường hợp NNT đủ điều kiện và thuộc đối tượng khai thuế GTGT theo quý muốn chuyển sang khai thuế theo tháng thì gửi thông báo (theo Mẫu số 07/GTGT) cho cơ quan Thuế quản lý trực tiếp chậm nhất là cùng với thời hạn nộp tờ khai thuế GTGT của tháng đầu tiên của năm bắt đầu khai thuế GTGT theo tháng.

Ba là: Về thời kỳ khai thuế theo quý.

Việc thực hiện khai thuế theo quý hay theo tháng được ổn định trọn năm dương lịch và ổn định theo chu kỳ 3 năm. Riêng chu kỳ ổn định đầu tiên được xác định tính kể từ ngày 01/10/2014 đến hết ngày 31/12/2016.

Trong chu kỳ khai thuế ổn định theo quý, nếu NNT tự phát hiện hoặc qua thanh tra, kiểm tra, cơ quan Thuế kết luận doanh thu của năm trước liền kề của chu kỳ khai thuế ổn định này trên 50 tỷ đồng, NNT không đủ điều kiện để khai thuế GTGT theo quý của chu kỳ ổn định đó thì từ năm tiếp theo liền kề của năm phát hiện cho đến hết chu kỳ ổn định, NNT phải thực hiện khai thuế GTGT theo tháng.

Trong chu kỳ khai thuế ổn định theo tháng, nếu NNT tự phát hiện hoặc qua thanh tra, kiểm tra, cơ quan Thuế kết luận doanh thu của năm trước liền kề của chu kỳ khai thuế ổn định này từ 50 tỷ đồng trở xuống, NNT đủ điều kiện để khai thuế GTGTtheo quý của chu kỳ ổn định đó thì NNT được lựa chọn hình thức khai thuế theo tháng hoặc quý từ năm tiếp theo liền kề của năm phát hiện cho đến hết chu kỳ ổn định.

Đối với các DN đã áp dụng khai thuế thuế theo quý trước ngày 15/11/2014 thì chu kỳ ổn định đầu tiên được tính đến hết ngày 31/12/2016.

Bốn là: Cách xác định doanh thu để xác định đối tượng khai thuế.

Doanh thu bán hàng hóa, cung cấp dịch vụ năm trước liền kề làm điều kiện xác định đối tượng khai thuế GTGT theo quý. Doanh thu bán hàng hóa, cung cấp dịch vụ được xác định là Tổng doanh thu trên các Tờ khai thuế GTGT của các kỳ tính thuế trong năm dương lịch (bao gồm cả doanh thu chịu thuế GTGT và doanh thu không chịu thuế GTGT).

Trường hợp NNT thực hiện khai thuế tại trụ sở chính cho đơn vị trực thuộc thì doanh thu bán hàng hoá, cung cấp dịch vụ bao gồm cả doanh thu của đơn vị trực thuộc.

Việc sửa đổi, bổ sung về khai thuế, tính thuế GTGT nêu trên được thực hiện theo hướng dẫn tại Thông tư số 151/2014/TT-BTC ngày 10/10/2014 của Bộ Tài chính có hiệu lực thi hành từ ngày 15/11/2014./.

Nguồn: Tổng cục Thuế

 

2015 © Copyright - by www.vtaxcorp.com